Lưu Quang Vũ: Ba đứa da vàng ngồi uống rượu/ Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu/ Chúng mình không có bom nguyên tử/ Chỉ có thuốc lào hút với nhau Thứ ba, 9/2/2010 | 11:45:12 AM
Trang chủ
Tin văn
Văn hóa - Nghệ thuật
Tiếng nói Nhà văn
Dư âm Hội nghị Quốc tế giới thiệu Văn học Việt Nam
Nhà văn đang có hồ sơ xin vào Hội
Nhà văn ta đang làm gì?
Hướng tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội
Lý luận - Phê bình
Tác phẩm và dư luận
Đối thoại
Nghề văn
Văn học với đời sống
VanVN.Net Giới Thiệu
Tác phẩm
Thơ
Truyện ngắn
Bút ký - Phóng sự
Tạp văn
Tiểu thuyết
Mỗi tuần một truyện ngắn, một chùm thơ
Nhà Văn Trẻ
Văn học nước ngoài
Tư Liệu Văn Học
Hội nhà văn
Cơ quan văn học
Hội viên
Di sản
Quán Văn Chương
Phiếm luận

Đọc nhiều nhất

Về cuốn hồi ký gây xôn xao trên mạng của một giáo sư

Cái tát của Lê Công Định

Sẽ còn những ai đứng đằng sau ông Huỳnh Ngọc Sĩ ?

Dư luận không giống như "Chú Thỏ" trong truyện "Cáo và Thỏ" thưa ông Đoàn Văn Kiển...

Hãy bình tĩnh, đừng quá riết róng theo kiểu “Giậu đổ bìm leo”

"Cái hèn" của người cầm bút

Ma đưa lối quỷ đưa đường hay bần cùng sinh đạo tặc... ( Về những vụ trộm cắp của người Việt bị phát hiện gần đây tại Nhật Bản)

Ăn ốc nói mò của một số người cầm bút


CÔNG TY LÂM NGHIỆP TAM SƠN

Xã Kiệt Sơn, huyện Tam Sơn tỉnh Phú Thọ; điện thoại: 0210 3745 002   Fax : 0210 3745 003   -   Email : - tamsontanson@yahoo.com
Đại diện tại Hà Nội: Phòng 330 Nhà K1 Khu Đô thị Việt Hưng, Long Biên Hà Nội điện thoại:  04 3652 4558 – Email: truongnd@gmail.com

  Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn (thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam) quản lý và sử dụng 10.903,1 ha thuộc địa bàn 10 Xã của Huyện Tân Sơn. Có điều kiện tự nhiên và khí hậu đặc trưng của vùng miền núi trung du phía bắc rất thuận lợi cho phát triển sản xuất lâm nghiệp.  
  Ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty là: Trồng rừng NLG, khai thác, thu mua, vận tải cung ứng gỗ NLG cho Tổng công ty Giấy Việt Nam ; sản xuất kinh doanh giống cây NLG, chè búp tươi; thu mua, chế biến và tiêu thụ các loại lâm sản NLG; sản xuất, chế biến Nấm Dược phẩm (Linh Chi) và cung cấp Nấm thực phẩm sạch cho thị trường Thành Phố Hà Nội, Tỉnh Phú Thọ, các tỉnh lân cận. Sản xuất, xuất khẩu và cung ứng nội địa hàng trăm triệu đôi đũa tre mỗi năm.
  Các sản phẩm Nấm sạch của Công ty sản xuất ra luôn đảm bảo chất lượng, hàm lượng các chất dinh dưỡng, đã chinh phục được các bà nội trợ khó tính. Trở thành một phần không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của người dân Việt Nam.
  Công ty đã mở một số Đại lý, cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm  trên địa bàn các Tỉnh phía bắc
  Khách hàng có nhu cầu mua số lượng lớn hoặc mở Đại lý bán sẩn phẩm . Xin vui lòng liên hệ với Công ty .

Giám đốc     
Nguyễn Đức Sơn


 
Home / VanVN.Net Giới Thiệu
Inrasara làm sáng tên cho năm đoá hoa Champa của riêng anh
Trần Xuân An ( 9/14/2009 3:21:21 PM )
 
Inrasara xuất hiện khá muộn trong làng thơ, sau khi đã xuất bản một vài công trình biên soạn tài liệu giáo khoa Chăm - Việt và nghiên cứu văn học tiếng Chăm. Ba mươi chín tuổi, Inrasara mới gửi thơ đăng báo và xuất bản “Tháp nắng” (1996), tập thơ đầu tay. Nhưng anh nhanh chóng trở thành một hiện tượng nổi bật.
 
Inrasara là trường hợp hiếm hoi và quý báu. Đây là lần đầu tiên có một người thuộc nhân tộc ít người trong đại gia đình các nhân tộc Việt Nam sử dụng tiếng Việt phổ thông với cách tư duy, cảm thụ và sáng tạo xuất sắc, hiện đại đến thế. Khi khẳng định điều ấy, tôi vẫn biết có nhiều người tiếc rằng sao Inrasara lại không như các thi sĩ dân tộc ít người anh em khác, chẳng hạn, Nông Quốc Chấn, Bạc Văn Ùi, Lò Ngân Sủn... Đánh mất nét hồn hậu đáng yêu trong nếp cảm nghĩ, trong ngôn từ biểu đạt, liệu có phải là một điều đáng tiếc nuối khôn nguôi?
 
 
 
INRASARA LÀM SÁNG TÊN CHO NĂM ĐOÁ HOA CHAMPA CỦA RIÊNG ANH:
 
 
 
Phần I
 
Mang trong mình mười mươi huyết thống Chăm, được sinh ra, lớn lên ở làng Chakleng (Mỹ Nghiệp), học trung học tại trường Pô Klong, Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận, cho đến khi gần trưởng thành, Inrasara mới thực sự có những năm tháng dấn bước đến TP.HCM. học đại học, ra các tỉnh Miền Trung phía bắc quê anh rồi trải nghiệm sống tại các tỉnh Nam bộ phía tây. Mãi sau này, anh mới có nhiều chuyến ra Bắc, phía ngoài Thanh Hoá. Khoảng mười lăm năm gần đây Inrasara định cư tại TP.HCM.
 
Inrasara xuất hiện khá muộn trong làng thơ, sau khi đã xuất bản một vài công trình biên soạn tài liệu giáo khoa Chăm - Việt và nghiên cứu văn học tiếng Chăm. Ba mươi chín tuổi, Inrasara mới gửi thơ đăng báo và xuất bản “Tháp nắng” (1996), tập thơ đầu tay. Nhưng anh nhanh chóng trở thành một hiện tượng nổi bật.
 
Inrasara là trường hợp hiếm hoi và quý báu. Trước khi quen Inrasara và biết đôi điều về anh như thế (những thông tin từ sách của anh và qua những cuộc chuyện trò), tôi cứ đinh ninh anh là tinh hoa Chăm đột ngột, bất ngờ xuất hiện. Khi quen thân với anh, nghe anh nói trước anh còn có Từ Công Phụng, tôi cũng ngạc nhiên về huyết thống Chăm của ông, nhưng vẫn không thay đổi ý kiến. Tôi biết Từ Công Phụng là một nhạc sĩ nổi tiếng đẹp về giai điệu, trau chuốt về ca từ, nhưng số lượng ca từ của ông chưa cho phép mọi người khẳng định Từ Công Phụng không những là một nhạc sĩ tài năng mà còn là một thi sĩ, người có biệt tài về nghệ thuật ngôn từ, như Trịnh Công Sơn. Sở dĩ tôi viết như vậy là bởi, khác với văn chương, âm nhạc chủ yếu là âm thanh nghệ thuật của nhân loại. Với Inrasara, phải chăng không thể không khẳng định, đây là lần đầu tiên có một người thuộc nhân tộc ít người trong đại gia đình các nhân tộc Việt Nam sử dụng tiếng Việt phổ thông với cách tư duy, cảm thụ và sáng tạo xuất sắc, hiện đại đến thế. Khi khẳng định điều ấy, tôi vẫn biết có nhiều người tiếc rằng sao Inrasara lại không như các thi sĩ dân tộc ít người anh em khác, chẳng hạn, Nông Quốc Chấn, Bạc Văn Ùi, Lò Ngân Sủn... Đánh mất nét hồn hậu đáng yêu trong nếp cảm nghĩ, trong ngôn từ biểu đạt, liệu có phải là một điều đáng tiếc nuối khôn nguôi?
 
Dẫu sao, thực trạng ngôn từ thơ Inrasara quả thật không đậm đà bản sắc nhân tộc. Thơ anh là thứ tiếng Việt hiện đại ôm chứa tâm hồn Chăm từ nghìn xưa cho đến hôm nay.
 
Đây là một vấn đề không nhỏ chút nào!
 
Khi mới có ý định viết về thơ Inrasara, cách đây vài hôm, tôi có ý định sẽ đi sâu, khám phá những tầng lớp trầm tích thạch mà trên những mặt đá ấy anh đã viết như khắc chạm những bài thơ của anh với tất cả tâm huyết mình. Nhưng rồi, tôi lại đổi ý định. Tôi tự giới hạn bài viết tôi tự phác thảo trong đầu: Chỉ non một nửa thôi, hai trong năm tập thơ anh đã xuất bản, “Sinh nhật cây xương rồng” (1997) và “Lễ tẩy trần tháng tư” (2002), cũng đã đủ để hình dung ra chân dung đích thực Inrasara, trong một sớm mai hừng đông chưa tan hết bóng tối hay chiều hôm đã bảng lảng màu đêm. Và cuối cùng, một lần nữa, ý định ấy được rút gọn hơn: Tôi sẽ hình dung ra thi sĩ Inrasara qua năm đoá hoa sứ trắng (hoa champa). Đó là năm bài thơ trong năm tập thơ của anh. Tên của bốn bài cũng chính là tên của bốn tập thơ. Inrasara đã tự chọn cho chính anh như vậy. Tập thứ năm, “Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài tân hình thức”, dễ khiến người đọc nghĩ đó là tập văn xuôi hay truyện thơ. Đây là cuốn sách tôi chưa được anh tặng, nên cũng suýt nghĩ như vậy. Thực sự tôi cũng lúng túng vì trong tập này, không có bài thơ nào trùng với tên của cả tập. Tôi chỉ mới đọc trên điểm mạng toàn cầu của riêng anh, và nghĩ, đoá hoa thứ năm của Inrasara phải là bài anh tự kể về mình, “Chuyện tôi”, chuyện của chính Inrasara. Liệu sự chọn lựa của tôi có thích đáng?
 
Đoá hoa sứ trắng thứ nhất: Tháp nắng
 
Từ những năm còn học trung học, tôi đã đọc thấy ở cuốn sách “Những hàng châu ngọc trong thi ca hiện đại” của Huy Trâm một bài thơ có tên là “Tháp nắng”. Đó là một trong số không nhiều bài thơ được Huy Trâm tuyển chọn và ca ngợi. Rất tiếc là tôi không còn nhớ tên của thi sĩ tác giả. Nhưng từ đó, mỗi lần trông thấy tháp Chăm ven đường quốc lộ hay nhìn thấy bất kì tấm ảnh tháp Chăm nào, hai chữ “Tháp nắng” đều vang lên trong tôi như vọng âm từ bài thơ ấy. Vì thế, phải nói là tôi xúc động như thể gặp lại một người thương mến cũ, khi đọc thấy tập thơ “Tháp nắng” của Inrasara. Thật ra, hai chữ “Tháp nắng” ấy không phải là một cụm từ độc sáng về mặt cấu tạo từ hay nội dung hàm chứa trong đó, đến nỗi phải chua là chữ của ai.
 
“Tháp nắng” của Inrasara không phải là “Tháp nắng” của ai đó.
 
“Tháp nắng” của Inrasara “như dấu lặng”, “âm thanh câm” giữa hoang vu đồi và hoang vu cát, những không gian trống không, và nơi ấy, “thời gian vắng mặt”. Cái không-thời-gian ấy cũng chính là “hoang mạc lòng nhân gian lạnh”, không lời ca, tiếng thơ nào ca ngợi – anh viết. Bài thơ của tác giả nào đó trong “Những dòng châu ngọc của thi ca hiện đại” có ngợi ca không, ở mức độ nào, tôi không nhớ rõ. Không ai nhắc lại, ngâm lại, hát lên thành ca khúc nên không ai còn nhớ.
 
Và chính anh, Inrasara, cũng vậy. Anh từng viết trong một lần ngỡ mình đã đốn ngộ đến mức tuyệt đỉnh nhất:
 
Lại xanh trong tôi - dù rừng đã cháy
Lại chảy trong tôi - dù sông đã chết
Chợt hanh lại cát - chợt buồn lại ru
Chợt duyên lại em - chợt hoang lại tháp
                 (Tập “Tháp nắng”, bài “Đứa con của đất” [1990] (1))
 
Không! Không thể gọi là đốn ngộ khi bình tâm chấp nhận “chợt hoang lại tháp”, tháp hoang vu như là một tất yếu của thời gian!
 
Và lần này, nói theo cách nói của một nhà thơ tiền chiến, “từ tôi phút trước sang tôi phút này” là một chuyển đổi toàn diện, triệt để, thì ở Inrasara, hốt nhiên, bật lên tiếng nói, không thể vậy mãi:
 
Chuyến xe Sài Gòn – Phan Rang
tôi đi lại quá trăm lần
Tháp có đó – tôi vờ như không có
Thoáng sát-na không gian bùng vỡ
Tháp hiện nguyên hình
tháp nắng
thênh thang
                 (Tập “Tháp nắng”, bài “Tháp nắng”, 1996)
 
Nghìn lần nhỏ hơn một phút: sát-na. Trong một chớp loé đốn ngộ, theo cách nói của thiền sư, nỗi không-thời-gian ấy trước nhãn quan anh đã tạo ra một big-bang mới cho một vũ trụ mới. Cái nhìn anh đã mới hẳn, hơn cả một lần tái sinh, mặc dù tháp nắng ở đoạn mở đầu bài thơ:
 
Biết mấy trăm năm rồi tháp đứng
Biển bên kia và cát bên này
Biết mấy vạn đời rồi tháp nắng
Trên đồi hoang
như dấu lặng
phơi bày
                   (Tập “Tháp nắng”, bài “Tháp nắng”, 1996)
 
Tháp nắng ấy cũng chính là tháp nắng khi bài thơ kết lại để mở ra một trời suy tưởng, cảm xúc và dự kiến mới.
 
“Tháp nắng” là bài thơ được viết với ngôn từ rất trong sáng, giàu hình ảnh và đọng nhiều cảm xúc trong từng câu chữ, nhịp điệu thơ.
 
Tên của bài thơ “Tháp nắng” không phải ngẫu nhiên khi được chính nhà thơ Inrasara chọn làm tên chung cho cả tập thơ đầu tay của anh.
 
Đoá hoa sứ trắng thứ hai: Sinh nhật cây xương rồng
 
Chỉ tính trong tập thơ thứ hai (1997) của Inrasara, có đến ba lần ở ba bài khác nhau, anh khắc vào trí nhớ người đọc hình ảnh cây xương rồng. Ở “Một thoáng em” ([1997], tr. 16), cây xương rồng là một trong ba biểu tượng của Ninh Thuận quê anh, sau tháp của mảnh đất dồn tụ, mang hồn vía đặc trưng Chăm và nắng ở vùng đất Phan Rang (Panduranga) ít mưa nhất nước. Khắc hoạ đậm nét và sắc nét, hình ảnh của loài cây bền sức chịu hạn ấy, được thấy ở toàn bài “Ngụ ngôn cây xương rồng” ([1996], tr. 35-39). Đó là cây xương rồng phát sáng về đêm như biểu tượng của độ trì, soi dẫn và tiêu điểm nhận đường, lúc mặt đất cũng như mặt biển đều ngập tràn sóng đen. Và cùng những hình ảnh khác đặc trưng cho quê nhà, cây xương rồng khát tiếng trống ginăng, khát gió Katê là một điểm nhấn cuối bài “Katê mới” ([1996], tr. 38-39). Nhưng trên tất cả, bài “Sinh nhật cây xương rồng” ([1997], tr. 50-54), không phải ngẫu nhiên Inrasara dành để cuối tập thơ được vinh dự mang tên nó.
 
Đó là bài thơ dài, có dáng dấp như một tuỳ bút thơ, được triển khai qua năm đoản khúc.
 
Trước hết, cây xương rồng với Inrasara như là (cũng có thể hiểu: chính là) biến thể hiển linh của một nhà sư:
Cây xương rồng như nhà sư khất thực theo vết chân gió trái mùa lang thang
Lạc bước qua triền đồi quê tôi để chịu bị cầm tù trong cát
Ngày qua, mùa qua kiên trì lượm nhặt dưỡng chất trần gian rơi rớt
Miệt mài đứng mảnh đất bạc mầu – tạo dáng quê hương
Ở một đoản khúc khác, cây xương rồng, biến thể hiển linh của nhà sư lại một lần nữa hoá thân:
 
Như ẩn sĩ cô đơn – yêu thương mà không cần nước mắt
Sẵn lòng cho nụ cười khinh bạc của lùm cỏ dại hay cụm mây hoang
 
Và cho dù như là hay chính là gì đi nữa, điều làm cho Inrasara ngờ vực cả chính anh, khi anh không biết cây xương rồng hiển linh ấy đã tạo dáng quê hương anh hay chính những ngọn đồi quê hương anh đã tạo dáng cho cây xương rồng:
 
Ngọn đồi tạo dáng cây mười năm một trăm hay ba trăm năm
Trầm mặc đổ bóng lên tuổi trẻ tôi – diệu vợi
 
Chính sự tự ngờ vực như một thủ pháp biểu hiện ấy khiến cho người đọc hiểu ra quê hương anh và cây xương rồng thiêng đã được đồng nhất hoá. Nhà sư -- cây xương rồng cần cù, nhẫn nại như người mẹ, ưu tư dõi mắt như người ông, rồi như người cha bảo ban minh triết về thời gian, lưu trữ quá khứ chưa xa, hãy còn nhức nhối về những đứa con vội quên màu xanh dĩ vãng. Ẩn sĩ – cây xương rồng lại là biểu tượng khiêm tốn, vô danh và vô ngôn của thời gian:
 
Trên đồi quê hương – lặng câm đứng nhìn từng thế hệ
Đứa con của dòng sông quay lưng lại dòng sông
Rời bỏ mái nhà, ngôi làng, cuộc tình thơm đi tìm đất hứa xa xăm
Ru thôi làm buồn, trâu hết muốn đi hoang, cánh buồm tuổi thơ bão nát
 
Chính nhà thơ Inrasara cũng thú nhận mình đã từng trốn chạy khỏi quê hương như vậy để mưu cầu một vùng đất hứa (vùng đất không thượng đế nào khác ngoài khát vọng hứa hẹn sẽ ban cho). Để rồi, cuối cùng, anh phải trở về, tả tơi không manh giáp, sau khi trước mặt là hố thẳm bế tắc đã thành vực thẳm bế tắc:
 
Chợt thấy bóng xương rồng nở chật trái tim mù sương
Tôi vội vã quay về quỳ dưới chân đồi và khóc
Cây xương rồng nhìn tôi với đôi mắt lửa và vỗ về tôi bằng bàn tay gai nhọn hoắt
Thì thầm bên tai tôi sinh nhật của mình
 
Điểm sáng thẩm mĩ hay nhãn tự là đây! Cái then cửa bằng vàng của bài thơ đã loé lên ở đây! Hoá ra, nãy giờ chúng ta chỉ mon men quanh cửa và hé mắt nhìn vào khe cửa. Tại sao cây xương rồng lại nghiêm trọng “Thì thầm bên tai tôi sinh nhật của mình”?
 
Tôi cứ ngỡ bài thơ sẽ kết lại để đồng nhất hoá cây xương rồng với tháp Chăm! (Plây ơi, làng ơi, sao tháp Chăm giống cây xương rồng Miền Trung đến thế!). Nhưng, không phải vậy:
 
Sinh nhật cây xương rồng
Có gió nồm reo đồi trọc
Có loài côn trùng đùa bãi cát
Có tháp Chàm giữa nắng đơn ca (2)
 
Rõ ràng trong ngữ cảnh này, cây xương rồng là một chủ thể duy nhất, còn các khách thể kia: gió nồm – đồi trọc, côn trùng – bãi cát và tháp Chàm – tiếng hát đơn. Cũng như các khách thể kia, tháp Chàm không đồng nhất hoá với cây xương rồng. Tất cả mọi khách thể đều reo đùa, ca hát theo cách của mình, để mừng sinh nhật cây xương rồng.
 
Phải chăng, Inrasara muốn nhận diện lịch sử nhân tộc Chăm trong một dấu mốc đáng nhớ -- ngày tái sinh với Phật giáo qua biểu tượng nhà sư khất thực thuộc Phật giáo nguyên thuỷ cổ đại? Đó cũng là lễ mừng sinh nhật mà từ hôm ấy, dưới ánh sáng cây xương rồng, anh thấy chính anh đã hoà nhập, hội nhập tất cả những ngọn nguồn văn hoá, đặc biệt là “nối ariya vào ca dao” -- nối những thơ ca dân gian Chăm vào thơ ca dân gian Kinh...
 
Câu thơ “Ngày mai xương rồng lại nở hoa” là tiếng reo hi vọng kết lại bài thơ.
 
Tương tự như sự trùng lặp nhan đề “Tháp nắng”, đặc biệt là hình tượng trung tâm của hai bài thơ cùng tên như đã viết ở phần trên: Mặc dù trước Inrasara và đồng thời với anh, đã có bao nhiêu bài thơ, câu thơ về cây xương rồng, nhưng “Sinh nhật cây xương rồng” vẫn là một hình tượng được Inrasara làm mới với nội dung mới, mang nét đặc trưng Chăm, Paduranga và hơi thở nội tâm của chính Inrasara.
 
Qua hai bài thơ “Tháp nắng”, “Sinh nhật cây xương rồng”, phải chăng không thể viết khác được điều này: Thực trạng ngôn từ thơ Inrasara quả thật không đậm đà bản sắc nhân tộc. Thơ anh là thứ tiếng Việt hiện đại ôm chứa tâm hồn Chăm từ nghìn xưa cho đến hôm nay.
 
Và cũng nên nêu lại câu hỏi bật ra từ những dòng mở đầu bài viết này: Phải chăng Inrasara đánh mất nét hồn hậu đáng yêu trong nếp cảm nghĩ, trong ngôn từ biểu đạt? Như thế, liệu có phải là một điều đáng tiếc nuối khôn nguôi?
 
Có thể có thêm dấu hỏi ngoài lề: Sao người viết bài này lại lại nhìn hoa xương rồng trắng muốt thành đoá sứ trắng ngời? Không, hoàn toàn không thể nêu lên câu hỏi như vậy. Vấn đề cần xác lập là bình diện. Trên bình diện năm bài thơ tiêu biểu, tên riêng của bốn trong năm bài thành tên của bốn tập thơ. Đó là bốn đoá champa. Cũng cùng trên bình diện ấy, một bài khác, không phải tên riêng của nó, mà chính là hồn phách, cốt tuỷ, hạt nhân của nó, là đoá hoa sứ trắng thứ năm, tiêu biểu cho tập thơ thứ năm. Mặt khác, khi đi vào nội dung của mỗi bài thơ, bình diện của vấn đề lại khác rồi.
 
 
Phần 2
 
Trong làng văn chương hiện nay, có nhiều nhận định về thơ Inrasara. Như đã nói, mặc dù anh xuất hiện muộn, mãi đến gần 40 tuổi (1996), anh mới gửi thơ đăng báo và in tập thơ đầu tay, nhưng thơ Inrasara nhanh chóng tạo nên một hiện tượng. Anh không phải là người khởi động trào lưu đổi mới, cách tân thơ, nhưng Inrasara sớm được nhiều người trong làng thơ trao cho anh nắm giữ ngọn cờ ấy. Thoát khỏi sự rụt rè ban đầu, Inrasara ngạo nghễ phất cao ngọn cờ, không những bằng thơ, mà còn bằng cả loạt bài lí luận, phê bình và nhiều lần trả lời phỏng vấn, với mĩ cảm, chủ kiến của riêng anh.
 
Nhưng cũng như những người đi trước anh dăm bảy năm hay độ mười năm, tính từ 1986, nội dung đổi mới, cách tân thực chất là quay về những giá trị văn hoá - lịch sử - triết học - tôn giáo - kinh tế cũ, có nhiều vấn đề đã quá cũ, từng phủ lên nó hàng ngàn năm với bao lớp bụi thời gian. Tuy vậy, viết được những suy nghĩ, cảm xúc về các giá trị cũ ấy đã là một đổi mới, cách tân sau một thời bị cấm kị khá dài. Nhưng ngay trong khía cạnh này thôi, phải chăng Inrasara vẫn chưa có cái nhìn mới, táo bạo, triệt để và sáng tạo. Còn phác hoạ một viễn cảnh tư tưởng hay hình dung ra một hiện thực cần-phải-có, nên-có, anh cũng mơ hồ, lúng túng.
 
Hướng đổi mới, cách tân Inrasara vẫn chỉ là thi pháp.
 
“Tháp nắng”“Sinh nhật cây xương rồng”, bài cũng như tập, chưa thể hiện rõ thể nghiệm với phần nào thành công cũng như thất bại trong việc cách tân thơ về mặt thi pháp như ở những bài, những tập sau.
 
“Hành hương em” là tập thơ thứ ba của anh, do Nxb. Trẻ TP.HCM ấn hành, có gì mới hơn chăng?
 
Đoá hoa sứ trắng thứ ba: Hành hương em
 
Cũng như nét tư tưởng chủ đạo và giọng điệu riêng của tâm hồn trong thơ Inrasara, ở “Hành hương em”, vẫn là trở về với giá trị văn hoá cũ. Ngay từ “hành hương” đã bao hàm ý nghĩa trở về với niềm tín ngưỡng, tôn giáo cũ. Cái mới ở đây, là đại từ “em” ngay sau động từ “hành hương”, thực ra, khi Inrasara viết thành thơ thì trong làng thơ, nó cũng đã không còn mới. Xin lưu ý: “Hành hương em”, không cách ra bằng dấu phẩy (Hành hương, em), cũng không thêm một dấu cảm (Hành hương, em!). Nếu cho rằng thơ không cần đến ngữ pháp, cụ thể là vứt hết những dấu câu, để mở ra nhiều nghĩa, người đọc hiểu sao cũng được, thì chúng ta đi vào tứ thơ và hình tượng thơ...
 
Dẫu sao, cái chính là Inrasara viết về đề tài này với cách viết của riêng anh. Mở đầu, anh viết:
 
Bóng tối mang khuôn mặt tự do nhảy múa
dụ ngọn bấc trái tim bị thương tôi gượng cháy vào đêm
với hoang đường tiếng hát em vọng mơ hồ phía trước.
 
Tôi đi
lầm lụi lần theo bờ kí ức
phác thảo giáo đường em thánh linh.
 
Bỏ lại sau lưng ngôi làng mệt nhoài hàng cây đơn điệu, lối cỏ rũ buồn
tôi
ngọn gió, ngọn đồi và ngọn bấc
đi.
 
Đi về phía trước, bỏ cả làng mạc, hàng cây, lối cỏ, gió, đồi và bấc đèn, thực ra là “lầm lụi lần theo bờ kí ức”, một thao tác trở về giá trị cũ trong trí nhớ đóng bụi, nhưng táo bạo (góp vào sự táo bạo của những bài thơ của tác giả khác trước anh) là dám “phác thảo giáo đường em thánh linh” vì nhận thức ra tiếng hát em rất đỗi “hoang đường”, “mơ hồ”. Anh trở về với tâm linh một cách khẩn cấp, đúng hơn, rất nghiêm khẩn, với tâm thế đã được chuẩn bị của “giai đoạn sư tử” (theo cách nói của Nietzsche). Anh “câm lặng và tín thành” phá đổ trật tự cũ kĩ, triền phược mục nát. Anh đau đớn đạp đổ. Khóc, nhưng cũng phải đạp đổ, để được “vòm trán vươn đầu ngưỡng vọng / hành hương em”. Và bi kịch thay, biết rất rõ là tiếng hát em hoang đường, nhưng hình như không còn chọn lựa nào khác, nên đành làm hành giả “mù loà”, cả tin, dấn bước, “trang nghiêm cuộc lữ dài” theo sự cám dỗ và nâng đỡ của đường cong thân thể em! Anh cũng bỏ hết tất cả những hưởng thụ vật chất cũng như thiên nhiên cùng với giá trị văn hoá cổ truyền:
 
Nỗi khát ở phía trước
cà phê Đà Lạt đồi rách mộng, bãi biển Qui nhơn nát gió, Phan Rang tháp nắng ruỗng mòn
Sài Gòn
snack bar hồng, chai bordeaux chát bồng tâm thức
Hà Nội gọi mời thu cuồng mê
 
Không những chối bỏ tháp Chăm nghìn đời thiêng, anh từng đốn ngộ ở “Tháp nắng”, anh còn chối bỏ cả giá trị tìm thấy ở “Sinh nhật cây xương rồng”:
 
Thiền Lâm tự triệu cánh tay mở rỗng
phía sau nỗi không ấy bóng giáo đường em mở phơi
 
“Hành hương em”“giáo đường em”, hay nói bằng ngôn ngữ tường minh hơn, em chính là giáo đường -- không phải giáo đường Thiên Chúa giáo mới, lại càng không phải thánh đường Hồi giáo mới vốn rất khắt khe với dục tính từ nét mặt đến thân thể nữ (khăn mạng và áo chùng đen): biểu tượng em chính là thánh linh với “đường cong cám dỗ và nâng đỡ”. Nhưng lần này:
 
trong zic zăc xoá trắng hôm qua em
giẫy sạch lọc lõi đời, hư vinh tôi, tất tật
riêng tự do có mặt
cửa sau lưng đóng sập nẻo về
 
Chỉ còn lại Tự Do! Và với tự do tìm thấy, anh phải làm một cuộc “lột xác” mới:
 
Trồi ngụp, lị, sốt rét rừng, co thắt nực, toát mồ hôi lạnh
từ chênh vênh đất đứng
tôi hành hương em.
 
Tôn giáo mới của anh cũng không phải là tiếng hát hoang đường, mơ hồ, cũng không phải là đường cong thân xác mĩ nữ. Bởi anh phải tái tạo lại “giáo chủ mới” của chính anh. Anh kết thúc bài thơ: “Tôi hành hương em”, chính là hành hương vào thân xác và tâm hồn mĩ nữ, vào tình yêu đương nam nữ. Hơn thế nữa, “giáo chủ mới” tôn giáo mới của anh chính là khái niệm Nhan sắc và Yêu đương. Đấy chính là Nữ thần Nghệ thuật và Tự do, theo mạch cảm xúc và ý tưởng anh đã thể hiện.
 
Phải chăng Inrasara đã đẩy lên một cung bậc mới, khi từ khát vọng tự do nghệ thuật và xem tình yêu đương như một tôn giáo đầy trân trọng, lại trở thành một điều gì quá ngưỡng, có khả năng là một bước lạc, sẩy chân? Không, “trong zic zăc xoá trắng hôm qua em”. Anh đã tái tạo lại “giáo chủ mới” của riêng anh.
 
Inrasara cũng chưa phải đã ngừng lại hành trình tìm kiếm.
 
“Hành hương em” ghi nhận thêm một chặng đường thơ ca của Inrasara. Đây cũng là điểm mốc mới mà sau lưng nó, là vẻ trong sáng của ngôn từ, kết cấu thơ. Thơ anh bắt đầu khiến người đọc cảm nhận với cảm giác phiêu lưu trong thẩm định cũng như thưởng ngoạn, hơn là với sự thấu hiểu, cảm thông. Thơ anh không còn là lòng giếng ta có thể nhìn thấy tận lớp cuội trắng dưới đáy nước. Thơ anh đã trở thành một dòng suối, nước luôn chảy và luôn xao động, tạo nên những khúc xạ với nhiều ảo ảnh, dễ khiến người đọc loá mắt, mỏi mắt khi chăm chú nhìn vào, có thể nhầm lẫn khi thử xác định đâu là chiếc lá rụng, đâu là con cá dưới đáy nước. 
 
Đoá hoa sứ trắng thứ tư: Lễ tẩy trần tháng tư
 
“Lễ tẩy trần tháng tư” trong tập thơ mang tên nó là một trường ca thơ, dài 43 trang (tr. 47-90, bản Nxb. Hội Nhà văn, 2002). Mở đầu là những dòng thơ như đề từ hay giáo đầu. Trong đó, sông - nước là đối tượng của sự ngợi ca, và qua đó, thể hiện khát vọng “giở một vòm trời khác”, một kỉ nguyên khác.
 
Sau khúc mở đầu ngắn, trường ca thơ “Lễ tẩy trần tháng tư” được Inrasara xây dựng thành 10 đoản khúc:
 
1. Hành hương về bên kia đêm tối
2. Hành trình
       - 1979
       - 1987
       - 1997
       - 2001
3. Cư sĩ và đám mây kí ức
4. Trong khoảng tối của gió mùa (thân tặng Trà Vigia)
5. Sầu ca trên đỉnh tháp
6. Ẩn ngữ Pauh Catwai
7. Ngụ ngôn mùa đông
8. Hoan ca giữa lòng cuộc đời I
    Hoan ca giữa lòng cuộc đời II
9. Khởi động của khởi động
10. Lễ tẩy trần tháng tư
 
Người đọc có thể nhìn thấy “Lễ tẩy trần tháng tư” không chỉ là những khúc thơ miêu tả, tường thuật lại cuộc hành lễ theo nghi thức tôn giáo Bà-la-môn của cộng đồng Bà Chăm (khác với cộng đồng người Chăm Hồi giáo, được gọi là Chăm Bà-ni). Vượt cao hơn một bản tả và thuật như một phóng sự hay một bút kí, Inrasara vẫn bám sát vào một số diễn biến theo lệ thường cùng những chi tiết, nghi thức phải tiến hành mỗi khi đến ngày lễ hằng năm này, nhưng xem đó như những cái mốc của thực tại, để từ đó, anh đi vào những cảm xúc, đặc biệt là biểu đạt chuỗi ý tưởng và nội tâm. Hơn thế nữa, đó là hành trình tìm kiếm, đau đớn quằn quại trong trăn trở, trong phủ định, đón nhận cái mới (thực ra là khác với cái quen thuộc) rồi lại phủ định.
 
Đó không phải là hành trình tìm kiếm, phủ định của riêng Inrasara hay Trà Vigia, bạn anh, mà của cả cộng đồng Bà Chăm. Trong khúc 1 Hành hương về bên kia đêm tối”, anh miêu tả và ẩn dụ hoá sự miêu tả ấy thật sinh động: Từ lúc còn khuya khoắt, mọi người Bà Chăm, người già lẫn con trẻ, đều chuẩn bị lễ và chuẩn bị tiến về nơi hành lễ, nhưng qua cái nhìn Inrasara, còn hơn thế, họ như một đoàn người đông đảo trong bóng tối tiến về hừng đông chân lí tín ngưỡng, của khát vọng làm mới, làm sạch chính mỗi người, nhưng theo anh, vẫn vô vọng:
 
Và bắt đầu nhảy, tôi thấy
(tôi là kẻ cuối cùng nhìn thấy, có lẽ)
điệu nhảy thịnh mùa của loài chim sa mạc
không ưu tư, không dự án – cuồng nộ và hỏng chân
vũ điệu của buổi tiệc cuối cùng
 
Giây cuối cùng của ngày cuối cùng
Của tháng cuối cùng của thế kỉ cuối cùng
Cái nháy mắt cuối cùng. Tiếng mấp máy môi cuối cùng
Ngoảnh lại cuối cùng. Buồn cuối cùng
Phụt tắt cuối cùng
Tro bụi cuối cùng
 
Gió gượng thổi ngọn gió cuối cùng
                          (bđd., tr. 50)
 
Bởi thế, “Hành trình” phải bắt đầu. Inrasara quay ngòi bút vào nội tâm, vào kí ức chính anh để kể lại những trăn trở, khổ đau trong hành trình ấy. Những cái mốc thời gian là những năm trăn trở tột cùng của anh: Từ “Chiều hóa thể / Dòng nước đen dịch chuyển trong hồn / Cựa mình băng mãi hoàng hôn” (1979),đến “Ta chối từ ta để ta được là ta / Cô đơn, cô đơn / Trên miền cao tư tưởng” (1987), nhưng vẫn vô định, “rồi mai chân trời nào – không biết” (1997), “Mai rồi trôi về đâu – không biết / Có bật ít mầm xanh?” (2001).
 
Trong kí ức của người cư sĩ cũng diễn ra một hành trình tâm linh như thế: Đâu là con đường (đâu là đạo)? Ông đã trải qua sự lỡ bước:
 
ông bước đi
về ngôi giáo đường chợt nhớ sau giấc trưa
đi
bàn chân trống rỗng khốn cùng
mặt trời ông đang xế bóng
                          (bđd., tr. 56)
 
Khi xưa ta đã yêu đất, yêu mây, chưa học biết yêu con đường
cứ ngỡ trong đám mây mù lòa kia có con đường hay vạch mây trôi dẫn hướng con đường
                          (bđd., tr. 57)
 
Con đường! Con đường! Một điệp ngữ vang dội trầm thống, trong thao thức. Để rồi, vẫn lỡ bước.
 
Đoản khúc “Trong khoảng tối của gió mùa” (thân tặng Trà Vigia) là sự khắc hoạ chân dung một người trẻ tuổi bế tắc và kiếm tìm, đi – lên đường, giẫm chân tại chỗ. Hình như khi biểu hiện bạn trên trang thơ, Inrasara cũng tự biểu hiện, nên từ ngôn từ đến hình ảnh, nhịp điệu thơ đều rất sống. Bên dưới chữ nghĩa là máu thịt nội tâm.
 
Trong đối thoại bị chối từ
Một ban mai mắc kẹt
Trước bàn tiệc ngút trời
Chúng ta vỏ chai không vứt xó
Trong loạn nhịp vũ khúc cổ
Không ai còn níu được sợi tóc định mệnh mình...
 
... Tiếng nói bị rách nơi đáy họng
Cả ở bề chéo tâm thức
Chúng ta bất lực và
Chúng ta không biết đường để khóc
Ngôi nhà cuối cùng đổ rụm sau lưng
                          (bđd., tr. 60)
 
Để rồi, tìm thấy cuối cùng, không phải ai cứu vớt và không phải tiếng khóc cứu vớt:
 
Niềm vui bất ngờ vang lên trong lễ hội
Cái cuối cùng có thể cứu vớt chúng ta:
TIẾNG HÁT
                          (bđd., tr. 62)
 
Ở đoản khúc 5, “Sầu ca trên đỉnh tháp”, thể hiện một tìm kiếm mới. Thuở xa xưa, tìm kiếm của một nửa cộng đồng Bà-ni đã thất bại. Nhưng đây cũng là sự tìm kiếm không được đồng tình của chung quanh:
 
Như ta, ngươi mãi dõi nhìn về giáo đường xanh non
cô đơn với bầy dơi, cụm mây, khuôn mặt
cô đơn con mắt camera nhấp nháy, bài diễn văn ngợi ca
cô đơn trong chính định mệnh ngươi
                          (bđd., tr. 63)
 
Có lẽ đây là những dòng thơ đầu tiên trong văn học Chăm phủ định trong sự đối thoại ngang hàng với tháp Chăm nghìn đời thiêng liêng. Không có gì ghê gớm hơn sự phủ định lịch sử và cả Bà-la-môn.
 
Những tìm kiếm vọng ngoại đều bế tắc. Phải quay vào chính di sản quá khứ Chăm. Khúc 6, “Ẩn ngữ Pauh Catwai” thể hiện sự tìm kiếm trợ lực từ nội lực. Ở đấy, không cần niềm tin suông mà cái chính là truy tầm ý nghĩa thực tế, ngay cả triết lí cũng phải thực tế, của sự sống, của lẽ sống. Trước hết, cứ là Chăm cả lúc cháy lên cùng ngọn lửa cuối đời”, điều mà trước đây, trong bài thơ nào đó, Inrasara dễ dãi đồng tình với sự chối bỏ nhân tộc, quốc tịch, những điều rất khó đồng cảm với anh. Và thực tế vẫn là:
 
Sau Lễ Tẩy trần tháng Tư năm nay
cả con sẻ nhỏ yếu, cái kiến mọn hèn nhất
cũng có đất để sống, để chơi
                          (bđd., tr. 68)
 
Giữa sự đối nghịch của sự giàu sang vật chất nhưng phi văn hoá với nghèo nàn vật chất nhưng phong phú về văn hoá, khiến ta nghĩ đến giá trị vĩnh hằng của thơ ca và văn hoá, nghệ thuật thật - tốt - đẹp nói chung, cho dù ở mức sống nào cũng rất cần thiết:
 
Giữa thế giới giàu sang vô độ này, cả nền thơ không thể cứu chuộc chúng ta
trong thế giới nghèo túng cùng cực này, một câu thơ cũng có thể cứu vớt chúng ta
 
Và, sống là mang tội nhưng bù lại, sống phải là một quá trình cống hiến, tạ ơn.
 
“Ngụ ngôn mùa đông”, đoản khúc 7, tình yêu đương như một cứu rỗi. Nhưng không chỉ thế và không vì thế mà Inrasara đắm chìm vào đó. Anh thức tỉnh và mời gọi nàng thơ, người nữ của yêu đương anh:
 
Sẽ không chỉ em thức canh tình yêu chúng mình vào vụ
cùng em
tôi vẫn trên đường
                          (bđd., tr. 75)
 
“Tôi vẫn ở trên đường”! Tôi muốn tô đậm năm chữ này (tên tập thơ của Trần Xuân An, Nxb. Văn nghệ TP.HCM., 1992) (1).
 
Hai khúc hoan ca tiếp theo, là sự phủ định những gì cạn cợt, hư vô, hư mất và vô định:
 
Chỉ kẻ đã chết đi xao động chiều ngày cạn cợt
chết ngọn khói hư vô còn vương bờ sông kí ức
chết than van hư mất ngày qua
chết bước đi vô định vào huyễn hoặc nỗi mơ
mới mong an nhiên giữa ngôn ngang cõi đất
và cất cao lời ca bát ngát
gởi vào tương lai xa
                          (bđd., tr. 76)
 
Là sự ngợi ca Tư tưởng, Ngữ ngôn đơn giản và Niềm vui:
 
mới mong đón nhận niềm vui ban mai
khai sinh trên miền cao Tư tưởng
nẩy mầm trong mùa màng Ngữ ngôn đơn giản
 
Trong thế giới thống khổ bạt ngàn
sẽ là niềm vui đến sau niềm vui cuối cùng
                          (bđd., tr. 75)
 
 
Cái chết cũng là một sự ra đi trong niềm vui của chính người đã hoàn tất sứ mệnh sống.
 
“Hoan ca giữa lòng cuộc đời II” là tiếng hát ngợi ca lao động, nhưng là sự lao động trên bề dày văn hoá, hay ít ra cũng là niềm vui sướng, “vui sướng được là hơi thở cho hạt mầm mãi làm huyền nhiệm”
 
Diễn biến của cuộc hành hương và hành lễ tẩy trần tháng tư còn là một hành trình tiếp tục trong trường ca thơ này của Inrasara. Đây là “khởi động của khởi động” (sđd., tr. 80-85):
 
Trước hết là cái vẫy gọi của phế tích hồi sinh:
 
Cái vẫy gọi của chênh vênh cánh tay gẫy tượng Shiva khoét rỗng
phần nửa chừng nụ cười bị sứt mẻ Apsara
dáng sắp nghiêng đổ tháp Yang Pakran
khúc gẫy gập sông Lu thình lình cạn nước
mới mong lay thân xác vô cảm chúng ta thức giấc
                          (bđd., tr. 80)
 
Kế đến, hình tượng một người đàn ông nào đó xuất hiện đằng sau đại từ “anh”. Anh ấy đã bỏ đi và đã trở lại:
 
Anh đã trở lại
bước chân lay động giấc ngủ tối tăm của chúng ta
bước chân nhẹ như lá lúa/ tỉ lệ nghịch định mệnh chúng ta
bước chân sẽ đến/ dù không ai biết lúc nào, ở đâu
không nói lên nợ nần/ gọi dậy tiềm lực
không đòi hỏi quá khứ/ đánh thức tương lai
đến nỗi bàn tay âm u nhất đưa ra
không ngại không ấm chân trời hồi đáp
                          (bđd., tr. 82-83)
 
Nhưng không thể sẻ chia, đồng cảm nổi với đề nghị của Inrasara:
 
Trong khởi đầu khó nhọc này
chúng ta vẫn là kẻ đứng ngoài rìa
thứ đồ cổ ngoài rìa cuộc sống sự vật đang hình thành
chúng ta được đo đếm/ thỉnh thoảng được sơn phết
chúng ta được xoa đầu/ được vỗ vỗ vào má
chúng ta được đem cất/ đôi lúc được bày ra
người ta ăn nói như thể rất có chúng ta/
vẫn như là chúng ta vắng mặt
                          (bđd., tr. 83)
 
Và lễ tẩy trần bắt đầu với nghi thức quan trọng nhất:
 
Nghiêm trang trước mặt trời thách thức, viên pháp sư tập đánh vần
ông đọc to từng tiếng một
LINGA… LINGAL… LINGAM… LIWA… LANGAL…
cuộc đánh vần lặp đi lặp lại gần hết đời đến mòn nhẵn
chữ chúng ta sạch
miệng chúng ta sạch
đất chúng ta sạch,
tâm linh chúng ta sạch

Heleh!
                          (bđd., tr. 84)
 
Đoản khúc cuối trường ca thơ là “Lễ tẩy trần tháng tư”. “Lễ tẩy trần tháng tư” là tên của đoản khúc thứ 10 này đồng thời là tên của cả trường ca thơ và cũng là tên của cả tập thơ.
 
Tiếng AUM (om) linh thánh của đạo Bà-la-môn vang lên, âm vọng suốt cả đoản khúc. Ngòi bút tả thực nhưng rất giàu khả năng biểu biện nội tâm và tâm linh của Inrasara được hiển lộ.
 
Khởi đầu trường ca thơ là tụng ca sông - nước. Dòng sông và nguồn nước sẽ tắm gội cho mọi người được trong sạch lại, mới lại. Kết của nó lại là lửa. Một cuộc tắm lửa của vị cả sư chủ tế diễn ra là sự thanh tẩy có tính tượng trưng. Vâng, con người sạch nhờ nước và sạch nhờ lửa:
 
Ông biến vào lửa Ông nhảy cùng lửa Ông là lửa
sạch lần cuối cùng/ sạch muôn ngàn lần nữa
cho thế giới một lần được sạch. Như thế
                          (bđd., tr. 89)
 
Lễ tẩy trần tháng tư giúp con người và cả thế giới sống lại, mỗi năm một lần, để còn sức sống và còn sức chịu đựng cuộc sống với tính nhị nguyên âm – dương của nó: Niềm vui - nỗi đau, sáng - tối...
 
Nếu LINGA - LINGAL - LINGAM… LIWA… LANGAL… (dương vật, cày, cái cày) là những âm vang bất tận ngợi ca phồn thực (hành dục và lao động để sinh sản và no đủ) thì AUM là âm vang tẩy trần linh thánh. Khi phát ra tiếng AUM, với người Bà Chăm, là sự giao cảm tâm linh siêu việt được thực hiện, là chan hoà trong cảm xúc thiêng liêng được thánh hoá trong sự trong sạch vô ngần. Đó là điều kiện cần và điều kiện đủ, cho mọi sự sống, cho mọi cuộc sống, cho cõi sống và cả cõi chết.
 
Hành trình tư tưởng của Inrasara cuối cùng vẫn là trở về với di sản văn hoá – tín ngưỡng nhân tộc mình, nhưng ở một tầm cao mới, một cách tân mới.
 
Trường ca thơ này, về mặt hình thức, khiến tôi nghĩ Inrasara đã tiếp nhận được ngôn ngữ điện ảnh trong thơ của nhà thơ Hy Lạp Yannis Ritsos (1909-1990) một cách sáng tạo. Yếu tố điện ảnh với nhịp điệu khẩn trương, căng thẳng ở những trường đoạn miêu tả - biểu đạt nghi thức và tâm thế hành lễ thật nhuần nhị, tinh tế, sinh động.
 
Đoá hoa sứ trắng thứ năm: Chuyện tôi
 
Trong tập thơ mới nhất của anh (2006), Inrasara hầu như đặt mọi sự quan tâm vào hình thức chứ không phải nội dung. Tôi nghĩ rằng Inrasara đang tự thể nghiệm những cách tân về hình thức và chưa thành công, cho dù đây là tập thơ thứ năm của anh: “Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài tân hình thức” (Nxb. Hội Nhà văn & Hội Nhà văn Tp. Hồ Chí Minh, 2006). Thậm chí, tôi hơi ngạc nhiên khi chính anh, một người có bản lĩnh, lại còn chạy theo một “mốt” cũ được tân trang. Thơ “vắt dòng” đâu có gì mới. Nó đã được thể nghiệm từ những năm thuộc nửa đầu thế kỉ XX. Nhưng thú thật, “vắt dòng” nếu không cực đoan và trong chừng mức nhất định vẫn tạo ra hiệu ứng mĩ cảm, còn “vắt dòng” kiểu tân hình thức là cả một sự khó chịu cho người đọc.
 
Thuở em ngủ quên trong đá, tôi
nghĩ có thể em có – tôi mơ
mộng em. Khi em ước thoát đời
đá, tôi tin em sẽ có – tôi

thèm khát em. Lúc em đòi rời
kiếp đá, tôi biết em chắc có
tôi khẽ chạm vào em. Tôi vỗ
mạnh vào em, em vỡ tiếng nói.
 
Em cất tiếng hát, khi tôi đánh
thức em. Em đã có – đường nét
và hình khối, dáng đứng với điệu
cười. Apsara Ap sa ra
                             (bài “Chuyện 12: Apsara”)
 
Khác với thứ “vắt dòng” phản mĩ cảm và phản ngữ pháp - ngữ nghĩa ấy, vắt dòng của Bùi Giáng như một nhấn mạnh, nghẹn ngào, cho dù trước ông chưa ai dám ngắt dòng ngay sau giới từ sở hữu “của”, mà quá lắm là sau liên từ “và” hay phó từ “cũng” (hay những từ có chức năng ngữ pháp tương đương):
 
Em chết trên bờ lúa
Để lại trên đường mòn
Một dấu chân bước của
Một bàn chân bé con
 
Chế Lan Viên trước đó, có “Trưa đơn giản” và sau này, có “Tập qua hàng”. Đến nay cách vắt dòng, ngắt dòng như thi sĩ Chế đã quá phổ biến. Nhưng sở dĩ nó được chấp nhận là vì, như đã nói, cách vắt dòng, ngắt dòng ấy vẫn tuân theo ngữ pháp thơ (tôi chưa nói đến ngữ pháp trong văn xuôi, vốn buộc phải nghiêm chỉnh hơn, kể cả văn tiểu thuyết (2) hay văn lí luận, phê bình).
 
Trưa quanh vườn. Và võng gió an lành
Ngang phòng trưa, ru hồn nhẹ cây xanh

Trưa quanh gốc. Và mộng hiền của bóng
Bỗng run theo... lá... run theo... nhịp võng
Trưa lên trời. Và xanh thẳm bầu trời,
Bỗng mê li, nằm thấy, trắng, mây trôi...
                       (“Trưa đơn giản”)
 
Chỉ một ngày nữa thôi
Em sẽ trở về
Nắng sớm cũng mong
Cây cũng nhớ. Ngõ cũng chờ
Và bướm cũng thêm màu trên cánh đang bay.
                       (“Tập qua hàng”)
 
 
Tân hình thức, theo thiển nghĩ, là một sự cách tân không có cơ sở tri thức về ngữ học, cụ thể là mối tương quan mật thiết giữa ngữ điệu với ngữ nghĩa (3).
 
Lại có cả “H[ậu h]iện đại ối trời! Có cả “chiết tự” phi lí sự đối với loại chữ kí âm bằng hệ chữ cái ABC (3)!
 
Bài Thì H[ậu h]iện đại của Inrasara chỉ là một sự bế tắc mới, khi thực hiện ý định cách tân hình thức thơ, đặc biệt là đổi mới nội dung thơ. Nó cũng thiếu vắng sự nhận thức về bản chất sự sống, đời sống, đi đến chỗ vô cảm trước sự sống, đời sống.
 
Tuy vậy, cả tập thơ đâu phải toàn là thơ tân hình thức “vắt dòng” kì quặc ấy. Tôi vẫn cho rằng bài “Chuyện 11. Chuyện tôi”, chuyệnInrasara kể về chính Inrasara, là đáng lưu ý nhất, đáng đọc nhất. Anh không những bị sợ hãi ám ảnh, sợ hãi biến anh thành phiếm (tào lao, bao đồng) và xô anh đắm vào vũng lầy cũ của chủ nghĩa hư vô. Bài thơ anh cho là thi ca vắng mặt thi ca” này vẫn khiến tôi nhớ đến “Bài thơ không viết” (tập “Sinh nhật cây xương rồng”, Nxb. Văn hoá dân tộc, 1997, tr. 5-6), một bài khá hay, cũng có đề tài gần như “Chuyện 11. Chuyện tôi”. Tôi nghĩ đến cách viết, vấn đề là hay. Mới mà không hay thì thường là quái dị. Xin trích một đoạn kết vẫn còn dễ cảm, và xin lưu ý, mỗi đoạn nhỏ thơ được viết hoa đầu dòng ở câu đầu, lưu ý cách “vắt dòng”:
 
Tôi đang làm gì là gì
nhà thơ nhà nghiên cứu nhà kinh
doanh hay miếng giẻ rách. Kiếp trước
chắc chắn tôi là chim kiếp sau
làm loài ếch có lẽ kêu ồm
ộp ngoài mưa
 
Trí thức không hẳn trí thức
truyền thống không thật truyền thống
thi ca vắng mặt thi ca
 
Tôi kêu ồm ộp trong mưa thật
to
 
Tôi đang ở đâu có gì
lang bạt chiều Hội An Hà Nội
lạnh run đêm Kumamoto
chết đói đường phố Kandahar
tôi bay sương mù Đà Lạt
1957 tôi đẻ ở Phan Rang
năm 1257 tôi sinh tại Mĩ
Sơn ngày 20 tháng 9 đúng
bảy thế kỉ sau tôi ra đời
trong làng vô danh tận Brasil
 
Tôi không bay nữa tôi không
còn phải kêu ồm ộp nữa. Tôi
bước đi.
 
Tôi không thể viết tiếp về Đoá hoa sứ trắng thứ năm: Chuyện tôi.
 
Và tôi lẩn thẩn tự nghĩ: Nên chăng, tôi để trống phần kết của bài viết này? Một số vấn đề đã nêu ra ở bài thứ nhất cũng như ở bài thứ hai này, nên chăng, cần bỏ lửng? Bỏ lửng ở nhiều trường hợp là cách nói tối ưu nhất.
 
Inrasara không những là một nhà thơ, anh còn có bút lực của một nhà nghiên cứu, lí luận, phê bình… Hi vọng Inrasara sẽ lên tiếng.
 
Trần Xuân An
___________________________
 
(1) Sau thời điểm xuất bản tập thơ đầu tay của Inrasara, tôi có dịp quen anh, và được biết Inrasara đã đọc tôi rất kĩ (bởi tôi có ít nhiều viết về người Chăm).
 
(2) Ngoại trừ tiểu thuyết “dòng ý thức” của James A. A. Joyce (1882-1941), William Faulkner (1897-1962)...
 
(3) Ai cũng biết Inrasara có biên soạn từ điển, có nghiên cứu ngữ pháp (đối sánh Chăm - Việt, Việt - Chăm).
 
 
 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
_________________________
 
(1) Những đoạn thơ của Inrasara được trích trong bài, xin xem tại điểm mạng toàn cầu
 
(2) Bài “Sinh nhật cây xương rồng”, tôi căn cứ vào bản sách in giấy (Nxb. Văn hoá dân tộc, 1997; lưu chiểu: 01-1998). Bốn câu thơ trên cũng đã được Inrasara viết tay, in vào bìa 4. Bản trên điểm mạng inrasara.com,đoản khúc V không đầy đủ, chỉ vỏn vẹn 4 câu này, còn những câu khác, bị cắt bỏ, không biết bởi lí do, tác nhân nào.
 
(3) Xin vui lòng xem tiếp phần 2 của bài viết (được tách riêng ra).
 
 
 
[ Print this page ]In bài   Trang trước [ Top page ]Đầu trang


Gửi ý kiến
Họ tên
eMail
Điện thoại
Địa chỉ
Nội dung:
   
Các bài mới:
  Thiên Sơn, hành trình của những trang viết(16/9/2009)
  ĐẤT MẸ BỌC ĐÙM(20/9/2009)
  Nhà thơ trẻ Trịnh Sơn(21/9/2009)
  Ma Văn Kháng và truyện Côi cút giữa cảnh đời(25/9/2009)
  Chùm thơ "Đêm" của Cổ Ngư(26/9/2009)
  Chùm thơ của tác giả Đình Hiển(30/9/2009)
  Có một đứa con lam lũ của đồng quê trong Nguyễn Hữu Hà(30/9/2009)
  Đi tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm(2/10/2009)
  Độc hành Mai Văn Phấn(11/10/2009)
  Trương Đăng Dung(15/10/2009)
Các bài đã đăng:
  Chùm thơ LÊ KHÁNH MAI: Đẹp, buồn và trong suốt như sương(11/9/2009)
  Giai Tử, trái tim đau đáu nỗi niềm(10/9/2009)
  Đỗ Hoàng sáng tác và dịch Kim Vân Kiều truyện thành 6099 câu lục bát(5/9/2009)
  Dương Kiều Minh với "Tôi ngắm mãi những ngày thu tận"(31/8/2009)
  Kỷ niệm 64 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9: Nhớ Trần Mai Ninh và nhớ bài thơ (27/8/2009)
  Văn đàn bi tráng(25/8/2009)
  Chùm thơ "Điệu mo buồn" của Hữu Vi(24/8/2009)
  Những câu thơ nhặt được(17/8/2009)
  Vầng trăng và cánh rừng(14/8/2009)
Sự kiện
10 nhân vật có ảnh hưởng nhất thập kỷ
Nhân vật
Tiếng nói đáng tin cậy nhất của nước Mỹ
Bình Luận
Trách nhiệm cao đẹp của người nghệ sĩ
Giới Thiệu Sách
Thơ Trữ Tình (Song Ngữ Đức - Việt) của Heinrich Heine
Nguyễn Khắc Viện - Tự Truyện
Nhiệt đới buồn


 
 
HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
Địa chỉ: 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội - Việt Nam
Điện thoại: (84-43) 9448134 * Fax: (84-43) 8263777
Email: vanvn.net@gmail.com / hoinhavanvietnam@gmail.com
Tổng biên tập: Hữu Thỉnh
Giấy phép số 77/GP-TTTT- Cục Quản lý Phát thanh-Truyền hình và Thông tin Điện tử- Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 26/8/2008.
Hội Nhà văn VN giữ bản quyền nội dung trên website này.
Xây dựng, phát triển: iDesign